Giáo dục và thi cử
Từ Văn Miếu đến Bình dân học vụ: việc học luôn được coi là quốc sách
- 1Trước thế kỉ XIBắc thuộc – Tiền Lê
- Chữ Hán du nhập, Nho học bắt đầu
- Nhà chùa là nơi dạy chữ
- Sĩ Nhiếp được nhớ là người truyền Nho học
- Chưa có hệ thống thi cử
- 2Nhà Lý1009 – 1225
- 1070 lập Văn Miếu
- 1075 mở khoa thi đầu tiên
- 1076 lập Quốc Tử Giám
- 1086 lập Hàn lâm viện
- 3Nhà Trần1226 – 1400
- 1232 thi Thái học sinh
- 1247 đặt tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa
- 1253 lập Quốc học viện
- Chu Văn An nổi tiếng dạy học
- 4Nhà Hồ1400 – 1407
- Đề cao chữ Nôm
- Đổi mới nội dung thi cử
- Đặt học quan ở các lộ
- Thi cử gắn với thực tế hơn
- 5Nhà Hậu Lê sơ1428 – 1527
- Ba năm có một khoa thi
- Thi Hương, thi Hội, thi Đình
- Dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu (1484)
- Lê Thánh Tông coi giáo dục là quốc sách
- 6Nhà Mạc1527 – 1592
- Vẫn mở khoa thi chọn người
- Nho học tiếp tục phát triển
- Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Giáo dục mở rộng về làng xã
- 7Lê Trung hưng – Trịnh – Nguyễn1533 – 1789
- Nho giáo vẫn giữ vị trí cao
- Đàng Ngoài và Đàng Trong có thi riêng
- Nhiều trường tư ở làng, thầy đồ
- Chữ Nôm và văn học phát triển
- 8Nhà Nguyễn1802 – 1919
- Quốc Tử Giám đặt ở Huế
- 1822 mở khoa thi Hội đầu tiên
- 1915, 1918 bỏ thi Hương ở Bắc kì, Trung kì
- 1919 khoa thi Hội cuối cùng
- 9Thời thuộc Pháp1858 – 1945
- Cải cách giáo dục 1906, 1917
- Mở trường Pháp – Việt
- Chữ Quốc ngữ dần phổ biến
- Đông Kinh Nghĩa Thục (1907)
- 10Việt Nam Dân chủ Cộng hoà1945 – 1954
- Chống giặc dốt, Bình dân học vụ (9 – 1945)
- Phổ cập chữ Quốc ngữ
- Cải cách giáo dục năm 1950
- Giáo dục gắn với kháng chiến
Tổng kết
- Giáo dục Nho học phát triển mạnh nhất từ Lý đến Lê sơ, tạo ra tầng lớp trí thức lớn.
- Thi cử là con đường chọn nhân tài cho bộ máy nhà nước.
- Đầu thế kỉ XX giáo dục cũ chấm dứt, thay bằng giáo dục hiện đại và chữ Quốc ngữ.
Suy nghĩ
- Vì sao Văn Miếu – Quốc Tử Giám có vai trò quan trọng?
- Dựng bia tiến sĩ nhằm mục đích gì?
- Chữ Quốc ngữ giúp gì cho phong trào yêu nước?